00:28 EDT Thứ năm, 10/23/2014

Cung Thánh

http://www.kinhthanhvn.org

Tháng 11:   pdf   -   word
Tháng 10:   pdf   -   word
Tháng 9:   pdf   -   word
Tháng 8:   pdf   -   word
Tháng 7:   pdf   -   word
Tháng 6:   pdf   -   word
Tháng 5:   pdf   -   word
Tháng 4:   pdf   -   word
Tháng 3:   pdf   -   word
Tháng 2:   pdf   -   word
Tháng 1:   pdf   -   word

Trang nhất » Kinh Thánh » Tân Ước

IV. BẢN VĂN TÂN ƯỚC VÀ KHOA PHÊ BÌNH BẢN VĂN

Thứ bảy - 26/03/2011 12:17 | Đã xem: 515
Tân Ước

Hiên nay chúng ta không còn giữ được một bản văn Kinh Thánh nào do chính tác giả viết, hay nói khác đi, bản văn gốc không còn nữa. Tuy nhiên chúng ta lại có rất nhiều bản chép Tân Ước bằng tiếng Hylạp và những bản dịch Tân Ước cổ bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Ðây là những bản chép tay thuộc nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện kỹ thuật in. Các bản chép này hiện đang nằm rải rác ở các thư viện trên thế giới.

Các bản chép tay Tân Ước được viết trên giấy cói hay giấy da.

Bản P52 (Papyrus Rylands) chỉ gồm Ga 18,31-33.37-38. Ðây là bản chép Tân Ước cổ nhất hiện có. Nó được chép khoảng năm 135, nay được lưu trữ tại thư viện John Rylands (Anh).

Bản P46, khoảng năm 200, gồm có các thư của thánh Phaolô, trừ những thư mục vụ. Bản này gồm 86 tờ giấy cói được đóng lại thành tập (codex).

Bản Vaticanô (Codex Vaticanus) mang ký hiệu là B, được chép vào thế kỷ IV. Bản này bằng tiếng Hylạp gồm cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, nhưng Tân Ước thì bị thất lạc phần cuối. Hiện được lưu trữ tại thư viện Vaticanô.

Bản Xinai (Codex Sinaiticus), thế kỷ IV, tìm thấy tại Tu viện thánh Catarina ở núi Xinai vào năm 1844. Bản này cũng bằng tiếng Hylạp gồm một phần Cựu Ước và toàn bộ Tân Ước, thậm chí còn thêm Thư của Banaba và một phần tác phẩm Người Mục Tử của Hécmát. Bản này mang ký hiệu là S, hiện để tại Luân Ðôn.

  • Giấy cói làm từ cây papyrus, một loại cây cói hay sậy mọc ở các vùng đầm lầy bên Aicập, cao từ 2 đến 3 mét. Trong hai thế kỷ đầu, Tân Ước thường được chép trên loại giấy này. Tuy không bên bằng giấy da, nhưng nhờ khí hậu khô nóng ở Aicập, loại giấy này vẫn còn tồn tại. Hiện nay còn chừng 90 bản giấy cói, đa số gốc Aicập, chép trong khoảng giữa thế kỷ II và thế kỷ VIII. Ðây chỉ là những mảnh của Tân Ước nhưng lại có giá trị cao, vì có những bản giấy cói cổ hơn những bản giấy da lâu đời nhất. Các bản giấy cói được đánh số và mang ký hiệu P. Sau đây là một vài bản quan trọng:
  • Giấy da làm bằng da, được sử dụng nhiều từ thế kỷ II sau CN. Bản văn Tân Ước đuọc chép trên giấy da dưới dạng chữ hoa (majuscules) hay chữ thảo (minuscules). Như giấy cói, các tờ giấy da có thể được đóng thành tập (codex) hay nối lại với nhau thành một miếng dài rồi cuộn lại (volumen). Sau đây là một vài tập chữ hoa quan trọng:

Ðây là hai bản nổi tiếng hơn cả trong số khoảng 250 bản chữ hoa chép trên giấy da, trong khoảng từ thế kỷ III đến thế kỷ X.

Như đã nói ở trên, các bản chép tay hiện có thể chỉ là những bản sao hay bản dịch từ bản gốc; chúng cũng có thể chỉ là những bản chép lại từ các bản sao. Khi đối chiếu những bản chép tay Tân Ước hiện có với nhau, ta thấy chúng có khá nhiều điểm dị biệt, cũng gọi là dị bản. Phần lớn là những dị biệt nhỏ liên quan đến các chi tiết văn phạm, từ vựng hay trật tự các từ trong câu. Tuy nhiên cũng có những dị biệt quan trọng, có ảnh hưởng đến ý nghĩa của cả đoạn.

Các dị biệt trên đây bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, bản văn gốc của Tân Ước đã được các ký lục sao đi chép lại nhiều lần trong bao thế kỷ. Khi sao chép, khó tránh khỏi những sai sót vì bất cẩn hay vì thiếu khả năng. Thêm vào đó có những ký lục, do ý hướng tốt, đã đôi khi sửa đổi bản văn mẫu mà họ cho là viết sai, viết không hay, hoặc thiếu rõ ràng về mặt thần học. Ngoài ra, khi dùng các trích đoạn Tân Ước trong phụng vụ, người ta cũng thường làm cho chúng trở nên dễ đọc hơn, hay dung hòa chúng với bản văn song song của một tác giả khác trong Tân Ước.

Như thế Lời Chúa trong bộ sách Tân Ước cũng chịu một số phận như những tài liệu cổ khác, đó là bị biến đổi ít nhiều qua dòng thời gian. Nhiêm vụ của khoa phê bình bản văn là phục chế, tái tạo lại hình thức nguyên thủy của bản văn gốc bằng cách dựa vào những bản chép tay hiện có.

1. trước hết là thu thập mọi bản Tân Ước chép tay, cả những bản Hylạp lẫn những bản dịch cổ bằng tiếng Latinh, Xyria, hay Aicập v.v... Ðôi khi có những bản dịch lại sát với bản gốc hơn cả bản Xinai hay bản Vaticanô, bởi lẽ chúng được dịch từ các bản Hylạp còn cổ hơn hai bản này.

Các giáo phụ thường trích dẫn Tân Ước trong các tác phẩm của mình. Những trích dẫn này cũng có thể giúp khoa phê bình tìm lại được bản văn Tân Ước ở tình trạng rất gần với bản gốc.

Tuy nhiên, dựa vào các bản dịch cổ hay các trích dẫn của các giáo phụ để mong tìm lại bản văn gốc là một việc tế nhị. Ðọc một từ trong bản dịch, chúng ta không dễ biết chắc được từ tương ứng bằng tiếng Hylạp trong bản gốc. Còn những trích dẫn thì quá ngắn và nhất là các giáo phụ lại thường trích dẫn dựa theo trí nhớ chứ không trích nguyên văn.

2. Sau khi đã thu thập các tài liệu trên đây, khoa phê bình bản văn sẽ cố gắng sắp xếp lại để tiện dụng cho việc tiếp cận với nguyên bản. Các nhà chuyên môn nhận thấy rằng các bản chép tay hiện có tuy nhiều, nhưng có thể chia thành một số nhóm chính. Mỗi nhóm tượng trưng cho một loại bản văn mà ta có thể xác định được nguồn gốc của nó một cách tương đối chắc chắn. Sau đây là ba loại bản văn chính yếu:

  • Bản văn "Aicập" hay còn gọi là bản văn Alêxanria, vì nó bắt nguồn từ vùng Alêxanria bên Aicập, vào trước năm 300. Các bản chữ hoa quan trọng nhất như bản Xinai (S) và bản Vaticanô (B) đều thuộc loại bản văn này. Từ nửa sau thế kỷ XIX, ở Tây Phương, các ấn bản Tân Ước thường dựa theo loại bản văn này. Dù có những khiếm khuyết, nhưng nó được các nhà chuyên môn nhìn nhận là loại bản văn có giá trị cao, ngắn gọn và ít có những sửa đổi hay dung hòa.
  • Bản văn "Xyria", còn gọi là bản văn Antiôkhia hay bản Phổ Thông. Người ta thường cho rằng nó bắt nguồn từ vùng Antiôkhia vào khoảng năm 300. Nhiều bản chữ hoa thuộc thế kỷ IX và thế kỷ X, cũng như phần lớn các bản chữ thảo thuộc loại bản văn này. Ở Ðông Phương ngày nay, bản văn này vẫn được sử dụng. Còn ở Tây Phương, các ấn bản đầu tiên của Tân Ước đều đã dựa trên bản văn này, nó được coi như bản văn được công nhận (textus receptus). Mãi đến thế kỷ XIX, nó mới nhường chỗ cho bản văn Alêxanria nói trên. Ðặc tính của loại bản văn này là trau chuốt và sáng sủa, có những sửa đổi vừa phải, có lẽ để thích nghi với việc dùng trong phụng vụ. Loại bản văn này không có giá trị phê bình cao như loại trên.
  • Bản văn "Tây Phương". Bản văn này được gọi như vậy từ thế kỷ XVIII, thì thoạt tiên người ta biết đến nó qua những bản dịch Latinh cổ (nửa sau thế kỷ II) hay những bản song ngữ Hylạp - Latinh (như bản Bêda, ký hiệu là D, khoảng thế kỷ IV). Nhưng giờ đây người ta khám phá thấy nó cũng đã có mặt ở Ðông Phương từ lâu. Bản văn này thiên về việc giải thích dài dòng để làm rõ nghĩa, và hay sửa đổi bản gốc cho có sự tương hợp giữa các đoạn song song.

Vậy vấn đề là phải phân loại và lượng giá các bản văn, cũng như xác định vị trí của chúng trong không gian và thời gian. Nhờ đó ta có thể nhận ra đâu là những hình thức cổ nhất của bản văn, nghĩa là những hình thức dễ gần với bản gốc hơn.

3. Công việc trên đây là nhiệm vụ của khoa phê bình ngoại tại (critique externe). Khoa này còn cần sự trợ giúp của khoa phê bình nội tại nữa (critique interne). Trước những dị bản, tức là những chỗ mà các bản chép không đồng nhất với nhau, khoa này sẽ giúp ta chọn dị bản nào có khả năng gần với bản gốc hơn, nhờ một số quy tắc. Sau đây là một vài quy tắc tiêu biểu:

  • Chọn bản nào khó hiểu hơn, miễn là nó không mâu thuẫn với văn mạch, vì người chép thường có khuynh hướng làm cho bản văn trở nên dễ hiểu hơn.
  • Chọn dị bản nào ngắn hơn, vì người chép có khuynh hướng giải thích dài dòng.
  • Chọn dị bản phù hợp với ngôn ngữ và tư tưởng của tác giả hơn.
  • Trong các bản văn song song, chọn dị bản nào còn giữ lại được nét riêng, hơn là dị bản đã bị dung hòa.

Những quy tắc trên đây không có tính tuyệt đối, nên cần áp dụng cách uyển chuyển và thận trọng, nhất là khi quy tắc này dẫn đến một kết luận trái với quy tắc kia. Ðể tránh rơi vào thái độ chủ quan, ta chỉ nên dùng khoa này như một bổ túc cho khoa phê bình đạt được trong khoảng 150 năm qua, hiện nay bản văn của Tân Ước có thể coi như đã được xác định.

Nguồn tin: http://www.catholic.org.tw

 

 

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn