13:35 EDT Thứ tư, 06/28/2017

Cung Thánh

http://www.kinhthanhvn.org

Tháng 11:   pdf   -   word
Tháng 10:   pdf   -   word
Tháng 9:   pdf   -   word
Tháng 8:   pdf   -   word
Tháng 7:   pdf   -   word
Tháng 6:   pdf   -   word
Tháng 5:   pdf   -   word
Tháng 4:   pdf   -   word
Tháng 3:   pdf   -   word
Tháng 2:   pdf   -   word
Tháng 1:   pdf   -   word

Trang nhất » Kinh Thánh » Tân Ước

III. THƯ QUY TÂN ƯỚC VÀ CÁC SÁCH NGỤY THƯ

Thứ bảy - 26/03/2011 12:19 | Đã xem: 1598
Tân Ước

Như đã nói ở trên, các Kitô hữu thời sơ khai coi bộ sách thánh của Dothái giáo là bộ Kinh Thánh duy nhất mà họ tôn kính. Trong khoảng một thế kỷ đầu của Kitô giáo (30-130 sao CN), bộ sách này không hề được gọi là các sách Cựu Ước, bởi lẽ bộ Tân Ước chưa thành hình. Ngày nay, các Kitô hữu, dù là công giáo, chính thống hay tin lành, đều nhìn nhận 27 sách trong bộ Tân Ước là sách thánh, là Kinh Thánh, có giá trị như hay thậm chí còn hơn cả bộ sách thánh mà người Dothái quen gọi là "Luật và các ngôn sứ". Ðể Giáo Hội Ðông Phương và Tây Phương đi tới việc nhìn nhận này, cần cả một thời gian dài mấy thế kỷ. Chúng ta không ghi lại đây những diễn biến phức tạp của lịch sử, chỉ phác thảo một vài nét chính.

Trên hết là vị trí trung tâm của Ðức Giêsu trong Kitô giáo. Tất cả đều quy về Người, những lời nói và việc làm của Người bày tỏ khuôn mặt của chính Thiên Chúa ở một mức độ siêu việt chưa từng thấy. Sau khi Ðức Giêsu về trời, nhịp cầu duy nhất nối liền các Kitô hữu với Ðức Giêsu là các Tông Ðồ, những chứng nhân về toàn bộ cuộc đời trần thế của Người. Các Tông Ðồ chủ yếu làm chứng bằng lời rao giảng (Cv 6,2-4; Rm 10,14-15), nhờ đó đức tin được khơi dậy và nuôi dưỡng trong lòng các tín hữu.

Có hai yếu tố khiến cho các Kitô hữu nghĩ đến chuyện phải viết lại những chứng từ về Ðức Giêsu. Trước hết là sự bành trướng của Kitô giáo sau quyết định của hội nghị ở Giêrusalem năm 49 (Cv 15). Cả một thế giới bao la của dân ngoại mở ra, Giáo Hội không còn chỉ đóng khung ở quanh Giêrusalem, nhưng đã vươn tới những miền xa tắp. Các Tông Ðồ phải liên tục đi nhiều nơi nên việc liên lạc bằng thư từ với các Giáo Hội trở nên cần thiết. Các thư của thánh Phaolô là một thí dụ về việc này. Kế đó là việc các Tông Ðồ dần dần trở nên già yếu và qua đời. Làm sao bảo tồn được những chứng từ về lời nói và việc làm của Ðức Giêsu? Hơn nữa, nhu cầu huấn giáo cũng đòi hỏi việc sắp xếp lại những chứng từ truyền khẩu cho có hệ thống. Thế nên đã có những sưu tập, truyền khẩu cũng như thành văn; đây là những chất liệu cho các tác giả viết Tin Mừng sau này.

Trong khoảng thời gian hơn một thế kỷ, đã xuất hiện nhiều tác phẩm của các Kitô hữu. Vấn đề được đặt ra rõ nét từ giữa thế kỷ II là vấn đề xác định xem đâu là danh sách những tác phẩm cần được bảo tồn và coi như sách thánh, nói cách khác, đó là xác định thư quy của Tân Ước. Có một vài tiêu chuẩn hướng dẫn công việc này:

  • Tác phẩm phải bắt nguồn từ các Tông Ðồ thì mới được nhận vào thư quy. Thư gửi tín hữu Dothái và sách Khải Huyền mãi đến thế kỷ III vẫn còn trong vòng tranh luận, bởi lẽ có nơi không tin thánh Phaolô và thánh Gioan là tác giả của chúng. Ngày nay người ta hiểu "tác giả" ở đây không nhất thiết phải là người đã cầm bút để viết nên tác phẩm, nhưng có thể chỉ là người đã có liên hệ và ảnh hưởng trên tác phẩm. Dù sao, đối với Giáo Hội các thế kỷ đầu, tông đồ tính của tác phẩm là điều quan trọng. Như các ngôn sứ xưa đã loan báo Ðức Giêsu nhờ ơn linh hứng (2 Pr 1,20-21), thì Nhóm Mười Hai (và Phaolô) giờ đây cũng làm chứng về sự hoàn tất viên mãn, nhờ cùng một ơn linh hứng đó (Cv 2,17-18).
  • Phần lớn các sách Tân Ước đều được viết cho những cộng đoàn Kitô hữu nhất định, nên lịch sử và tầm quan trọng của một cộng đoàn cũng giúp nhiều cho việc bảo tồn một tác phẩm và thậm chí cho việc nhận tác phẩm đó vào thư quy. Dường như Tin Mừng Matthêu được gửi cho các cộng đoàn ở Xyria, và họ đã làm tốt nhiệm vụ này. Các Giáo Hội ở Hylạp và Tiểu Á có lẽ đã bảo trì các tác phẩm của thánh Phaolô và thánh Gioan. Giáo Hội ở Rôma đã bảo trì Tin Mừng Máccô và thư gửi tín hữu Rôma.
  • Tác phẩm phải phù hợp với quy luật đức tin. Chẳng hạn như Tin Mừng của thánh Phêrô không được đưa vào thư quy vì có thể dẫn đến lạc giáo.

Sau đây là một vài thời điểm đặc biệt trong lịch sử hình thành thư quy:

  • Ðần tiên rất có thể là tập thư Phaolô đã được gom lại và sử dụng trong Giáo Hội. Từ đầu thế kỷ II, nhiều tác giả Kitô giáo cho thấy họ đã biết đến một số lớn các thư Phaolô, có lẽ là nhờ các thư này được thu thập và phổ biến dựa trên uy tín lẫy lừng của ngài. Tuy nhiên, trước đầu thế kỷ II, không có dấu hiệu cho thấy các thư này được coi là sách thánh như các sách Cựu Ước. Dần dần toàn bộ thư Phaolô được các Giáo Hội ở thế kỷ II công nhận, vì có tông đồ tính.
  • Ở thế kỷ I, các Tin Mừng chiếm chỗ đứng mờ nhạt so với các thư Phaolô. Trước năm 140, không thấy có tài liệu nào nói đến tập sách Tin Mừng, nhưng từ nửa sau thế kỷ II có nhiều chứng từ hơn. Thánh Giúttinô nói đến sự kiện các Tin Mừng được đọc vào Chúa Nhật, được coi như tác phẩm của các Tông Ðồ (hay những đồ đệ của các ngài) và được dùng như Kinh Thánh. Càng lúc bốn Tin Mừng càng tỏ ra trổi vượt hơn các sách khác vì tính chân thực trong những lời chứng về Ðức Giêsu. Có lẽ khoảng năm 170, bốn Tin Mừng đã được nhận vào thư quy.
  • Một thời điểm quan trọng trong lịch sử thư quy là chọn lựa của ông Mácxion (14). Ông này gạt bỏ toàn bộ Cựu Ước, chỉ chấp nhận một Tin Mừng duy nhất (bản ngắn của Luca) và những thư của một Tông Ðồ duy nhất (10 thư của Phaolô). Thái độ của Mácxion rõ ràng là ngược với Giáo Hội xưa nay, nên nó đã gây ra những phản ứng mạnh mẽ, nhất là từ thánh Giúttinô và thánh Irênê. Các Giáo Hội địa phương bắt đầu đưa ra thư quy riêng của mình.
  • Vào đầu thế kỷ III, khắp nơi đều nhìn nhận bốn sách Tin Mừng, 13 thư của Phaolô (trong đó không có thư Dothái), Công Vụ, thư thứ nhất của thánh Phêrô và phần nào thư thứ nhất của thánh Gioan nữa. Các sách còn lại chưa đạt được sự nhất trí trọn vẹn. Các cuộc tranh luận còn kéo dài.
  • Dần dần có một sự nhất trí. Ở Ðông Phương, năm 367, thánh Athanaxiô, giám mục Alêxanria chấp nhận thư quy gồm 27 cuốn như ta ngày nay. Ở Tây Phương, "sắc lệnh của đức Ðamaxô" do công nghị Rôma công bố (năm 382) cũng chấp nhận như vậy. Thư quy coi như đã được ấn định vào cuối thế kỷ IV. Năm 1546, công đồng Trentô đã tái khẳng định thư quy của toàn bộ Kinh Thánh.

Ta thấy một tác phẩm được nhận vào thư quy vì nó là bản văn được linh hứng, nhưng ta chỉ biết chắc chắn là nó được linh hứng khi nó được nhận vào thư quy. Giáo Hội trước khi nhận vào đã phải suy nghĩ về truyền thống được coi là bắt nguồn từ các Tông Ðồ, đó là tiêu chuẩn để chọn lựa.

Khi thư quy được xác định, một số lớn tác phẩm không được kể vào thư quy này. trong đó có cả những tác phẩm nổi tiếng, thậm chí đã từng được một số vị có thẩm quyền công nhận là sách thánh, như sách Giáo Huấn của mười hai Tông Ðồ (cuối thế kỷ I hay đầu thế kỷ II), Người Mục Tử của Hécmát (đầu thế kỷ II, Rôma), thư của Banaba, hai thư của Cơlêmentê. Các tác phẩm này được bảo tồn cẩn thận và ngày nay vẫn được xếp vào các tác phẩm có giá trị của Giáo Hội buổi đầu.

Nhưng cũng có những tác phẩm khác bị loại bỏ, không được Giáo Hội dùng làm nền tảng cho giáo lý của mình, và vì thế không được dùng trong phụng vụ, ta quen gọi là ngụy thư. Ngụy thư có hình thức và nội dung khá gần với các sách Tân Ước. Tuy nhiên cũng phải nhận là một số ngụy thư có chứa đựng những sai lạc về giáo lý, thí dụ nghiêng về ảo thân thuyết (docétisme, thuyết này không nhìn nhận nhân tính của Ðức Kitô) hay bài bác hôn nhân. Phần nhiều các ngụy thư đều ẩn dưới danh nghĩa các vị Tông đồ.

Ta có thể chia các ngụy thư thành bốn loại như các sách trong Tân Ước:

  • Các sách Tin Mừng: Tin Mừng của thánh Phêrô (tìm thấy một mảnh ở Aicập vào năm 1886), Tin Mừng của thánh Tôma, nay được chia làm 114 câu trong đó có 79 câu gần giống với Tin Mừng Nhất Lãm... Các Tin Mừng này ít nhiều mang dấu vết của phái ngộ giáo (gnosticisme), phái này cho rằng chỉ có việc giác ngộ mới đưa con người đến ơn cứu độ. Ngoài ra còn có Tin Mừng thời thơ ấu của thánh Tôma và Tiền Tin Mừng của thánh Giacôbê, hai tác phẩm này mang nhiều yếu tố huyền hoặc, lạ lùng.
  • Các sách Công Vụ: Công Vụ của thánh Anrê chịu ảnh hưởng của ngộ giáo qua việc lên án hôn nhân và nhấn mạnh đến bản tính thiêng liêng của con người. Công vụ của thánh Gioan, Công Vụ của thánh Phaolô, Công Vụ của thánh Phêrô, Công Vụ của thánh Tôma. Nói chung tác giả các sách Công Vụ thích khai thác những yếu tố kỳ diệu, lạ lùng trong cuộc đời vị Tông Ðồ mà họ muốn ca ngợi.
  • Các thư: Thư thứ ba gửi tín hữu Côrintô, Thư gửi tín hữu ở Laođikia, Thư của các Tông Ðồ. Nội dung của các thư này không có gì đặc sắc (trừ Thư của các Tông Ðồ) và giống với những bài luận bàn về thần học hơn là những lá thư.
  • Các sách khải huyền: sách Khải Huyền của thánh Phêrô kể lại việc Ðức Giêsu chỉ cho các môn đệ thấy những miền ở thế giới bên kia, chỗ ở của kẻ dữ và hình phạt họ phải chịu. Còn sách Khải Huyền của thánh Phaolô lại xoay quanh thị kiến của thánh nhân được nói đến ở 2 Cr 12,2.

Nguồn tin: http://www.catholic.org.tw

 

 

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn